Tượng đài tưởng nhớ những nạn nhân đêm 26.12.1972 tại phố Khâm Thiên.


Lũ chúng tôi có chín người, cùng tốt nghiệp đại học tại Cộng hòa Dân chủ Đức mùa Thu năm 1972. Cuối tháng Mười năm đó, sau hai tuần lễ nằm tàu hỏa qua Ba Lan, Liên Xô, Mông Cổ, Trung Quốc, chúng tôi về đến Hà Nội. Được về quê nghỉ một tháng, tôi quay ra Hà Nội nhận công tác tại một cơ quan có trụ sở trên phố Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc khu phố Hai Bà Trưng. Ông cán bộ tổ chức cho biết khi đưa quyết định công tác cho tôi, cả đơn vị của tôi làm việc tại nơi sơ tán, chỉ có một số thanh niên tình nguyện ở lại “trực chiến”. Tôi đề nghị ở lại làm việc tại Hà Nội.

Nhóm có hơn mười con trai độc thân. Ban ngày làm việc, ăn cơm tại cơ quan, có bếp tập thể phục vụ. Tối giải chiếu lên bàn. “Trực chiến” đối với chúng tôi khi đó là sẵn sàng xuống hầm khi có còi báo động và sẵn sàng cứu nạn, cứu thương khi cần thiết. Chỉ có thế thôi. Thỉnh thoảng, sau giờ cơm chiều, mấy đứa lại vòng vèo xe đạp quanh công viên Thống Nhất, hồ Thiền Quang, qua Nguyễn Thượng Hiền, ngang Khâm Thiên, xà quán nước chè, vài điếu thuốc, rồi quay về trước 7 giờ tối.

Nhưng từ bảy giờ tối ngày 18 tháng 12 năm 1972, sinh hoạt của chúng tôi hoàn toàn đổi khác. Ấy là giai đoạn B52 “rải thảm” Hà Nội.

Ký ức mờ dần theo năm tháng. Nhưng cái đêm 26 tháng 12 năm đó ám ảnh tôi nhiều nhất. Đang ngủ, tiếng bom nổ hất tung từ bàn xuống nền gạch. Chúng tôi lao ra cổng, chỉ nghe loáng thoáng tiếng anh đội trưởng chạy phía trước, Khâm Thiên... nhanh lên. Chạy đến Nguyễn Thượng Hiền, thấy rất nhiều người kêu khóc chạy ngược chiều. Vượt qua đường Nam Bộ (bây giờ là Lê Duẩn), lao sang phố Khâm Thiên. Một cảnh tượng hãi hùng ập vào mắt. Chúng tôi nhào vào... Gần sáng, mấy anh em run rẩy quay lại cơ quan. Riêng tôi, không thể nhớ được mạch lạc, đêm qua chúng tôi đã thấy cảnh tượng gì, làm những việc gì.

Một thời gian dài về sau, khi được đọc những vần thơ của Lưu Quang Vũ về cái đêm khủng khiếp đó, tôi mới dần nhớ lại...

 


Nhà thơ Lưu Quang Vũ   


Đã có người ví bài thơ Khâm Thiên của Lưu Quang Vũ  với  bức tranh Guernica của Picasso mô tả cảnh tượng thị trấn Guernica của Tây Ban Nha bị quân Đức dội bom năm 1937. Một bài thơ được so sánh với một tác phẩm hội họa bất hủ - Có ai đã làm được như vậy không?
 

KHÂM THIÊN

những người chết trong đêm thân gãy nát
óc chảy ròng trên gạch
những người chết cháy đen miệng há mắt mở trừng
những xác vùi đẫm máu dưới cầu thang
tay chân vặn vẹo thịt xương
lòng ruột mắc trên dây điện
phố Khâm Thiên ầm ầm đổ sụp
tiếng người la khủng khiêp xé đêm dài

mặt trời lên trên bãi thây người
mặt dập vỡ ngực trần thủng hoác
những đống tóc gân đầu mình lẫn lộn
những xác tím bầm lạnh buốt sương đêm
bốn phía tiếng gào tiếng khóc tiếng rên
tiếng xẻng cuốc bới người trong gạch vụn
phố đông đúc thành bãi bằng đổ nát
không nhận ra những vỉa hè quen
xác người nằm ngổn ngang
báo đậy mặt, ruồi đậu bàn chân xám
bé ngẩng đầu ngơ ngác
bên xác anh xác chị xác mẹ cha
tôi đi như mù lòa
đỡ em gái đập đầu ngã ngất
bà cụ phát điên vật mình ôm mặt
người mất tích đang tìm, người chết chẳng kịp chôn
xe nối xe sừng sững chở quan tài
đóng vội bằng mặt bàn, cánh cửa
phấn run rẩy ghi tên người xấu số
lên nắp quan xộc xệch chẳng bào sơn
quan tài trẻ thơ như những chiếc hòm con
những bát đĩa tủ giường tan vỡ
quần áo nát, gạo dầu ngùn ngụt lửa
sách vở dép giày vùi dưới hố sâu
tấm màn trắng xóa
xé chia nhau chít vội lên đầu
cả khu phố già đi hàng chục tuổi
những bó hương bên đường nghi ngút khói
những bó hương châm nát cả bầu trời
người trồng rau, chữa khóa, vá may
người nhặt củi, quét đường lam lũ
từ nay chung buổi giỗ
Bạch Mai Yên Viên Vọng Láng An Dương
phố đầy khăn tang
đêm không đèn tối mịt
chúng tôi ngồi bên nhau chờ cái chết
người các ô lên nằm ngủ vườn hoa
gió cuối mùa xót xa
thổi xõa tóc đoàn người chạy giặc
những dòng người kéo đi xé ruột
đội chiếu, ôm chăn, đeo làn, vác bọc
chút gia tài nghèo cực địu trên lưng
bao gia đinh dắt díu chị bồng em
những quần áo khói bom lấm rách
những cụ già vịn nhau dò dẫm
máu ròng ròng trên những chiếc cáng thương

năm 72! Có thể thế được chăng
hãy mở mắt ra trông
vụ thảm sát xưa nay chưa từng có
năm trái đất phóng bao tàu vũ trụ
không nơi nào không nói đến tình thương
Ghéc-ni-ca cũng chẳng thảm thê bằng
vô nghĩa hết, thánh kinh và máy tính
những pho sách, những dàn giao hưởng
ích gì đâu, khi bể máu dâng đầy
ôi xấu xa, đê nhục lắm con người
lời không đủ để nói điều phẫn nộ
tôi muốn có phiên tòa cho tất cả
tôi vạch từng tên tôi gọi từng người
hãy đứng ra đây
các bà mẹ Mỹ
những dòng sữa đã nuôi bầy đồ tể
lời ru nào đã dạy chúng lớn khôn
những Kít-xinh-giơ và những Ních-sơn
ta nguyền rủa chúng mày cho đến chết
những kẻ nào đã gây ra tội ác
những kẻ nào để tội ác gây ra
những chính khách những nhà thơ
những bộ óc chế súng bom hủy diệt
các tư tưởng cầm quyền các nước
lãnh tụ tối cao của mọi đảng trên đời
các ông kêu: vì hạnh phúc con người
nay con người chết đi
cái phúc ấy ai dùng được nữa!
chục chiếc B-52
không đổi được một trẻ nghèo Ngõ Chợ
không thể nhân danh bất-cứ-cái-gì
bắt máu vạn dân lành phải đổ
không thể chắp bình minh
bằng xương thịt những mặt người vỡ nát
ai tự xưng môi kề răng lạnh
ai khoác tặng chúng tôi vinh dự đẹp
các anh đón đưa nâng cốc chúc hòa bình
các anh quyên thuốc men các anh đi biểu tình
rồi thanh thản trồng hoa và câu cá
và tìm thấy lương tâm mình yên ả
trong nỗi đau quằn quại của chúng tôi
ta oán giận các người, đồ dối trá
loài người chung vai nhận tội ác này
anh và tôi, vâng, tôi nữa, cả tôi
chúng ta đã ngu tối đến nỗi
không che chở được mẹ già em dại
khỏi quả bom tàn bạo tự trời cao

muốn kết thúc thơ mình
bằng những lời tốt đẹp
nhưng lòng tôi làm sao tươi sáng được
khi máu bầm khắp nơi
dưới bát cơm trên trời trong cốc nước
đêm qua tôi đã chết
với hàng ngàn mạng người
từ than bụi tôi hiện hình trở lại
mang đau thương đến trọn cuộc đời
tôi sẽ xông vào mọi cuộc vui
mọi buổi lễ uy nghiêm
mọi bài ca lừa dối
mọi quên lãng mọi nụ cười dễ dãi
để nói về những xác chết cháy đen
để nói về
những xác chết cháy đen

kẻ làm chứng trung thành
trước phiên tòa lịch sử
giữa tột cùng đau khổ
đâu dám ngồi trau chuốt mỗi câu thơ
nhân danh cuộc sống, nói về cái chết
nhân danh niềm vui, nói về nước mắt
nhân danh tình yêu, tôi mãi mãi căm thù.


Hà Nội 1972.
Lưu Quang Vũ

 
Bài: NVT (giới thiệu)
Ảnh: Internet

 


Cảnh tượng phố Khâm Thiên sau đêm 26.12.1972.

Cảnh tượng phố Khâm Thiên sau đêm 26.12.1972


Bức họa Guernica của Pablo Picasso.
 

Go to top